Các nghi thức Phụng Vụ đều được kết thúc bằng một lời nguyện. Với lời nguyện nhập lễ, linh mục chủ lễ kết thúc phần mở đầu Thánh Lễ. Sau lời mời: “Chúng ta hãy cầu nguyện”, cộng đoàn thinh lặng trong giây lát để ý thức mình đang ở trước mặt Thánh Nhan Chúa; đồng thời, đây cũng là cơ hội gợi lại trong tâm hồn người dự lễ các ước nguyện của mình. Tiếp đến, linh mục đọc lời nguyện; trong đó, đặc tính của buổi lễ được tóm gọn lại (Tổng nguyện) và được “hướng về Chúa Cha, qua Đức Ki-tô, trong Chúa Thánh Thần” (30). Người tham dự tung hô “A-men” để tỏ bày sự chung lòng hợp ý của mình cùng với lời nguyện, cũng như để làm cho lời nguyện đó thành của mình (32).

Khi đọc lời nguyện, linh mục chủ lễ giang tay ra. Đây là tư thế cởi mở đón nhận và hy sinh. Lịch sử tôn giáo cho thấy: khắp nơi người ta đều quen và hiểu tư thế giang mở rộng bàn tay như là cử chỉ hòa bình, vì không còn cầm giữ vũ khí trên tay. Đồng thời, đây cũng là dấu hiệu biểu lộ sự tin tưởng và van xin. Trong Cựu Ước, cầu nguyện là giang tay lên Chúa: “Khi con hướng về nơi cực thánh, giơ đôi tay cầu cứu van nài, xin Ngài nghe tiếng con khấn nguyện” (Tv 28,2). Cử chỉ này được Ki-tô Giáo thu nhận vào trong các nghi thức phụng vụ của mình.           Cùng với các nghi thức đầu lễ khác như ca nhập lễ hay nghi thức sám hối, lời nguyện nhập lễ có tính cách mở đầu, dẫn nhập và chuẩn bị, “giúp cho các tín hữu đã tập họp được hiệp thông với nhau; chuẩn bị tâm hồn để nghe Lời Chúa cho nghiêm chỉnh và để cử hành thánh lễ cho xứng đáng” (24).    

 

Thông thường, sau khi rước lễ, cộng đoàn hay ca đoàn hát một bài thánh ca ngợi khen, hoặc thinh lặng cầu nguyện trong một khoảng thời gian. Sau đó, linh mục kết thúc phần hiệp lễ với một lời nguyện. Cũng như lời nguyện nhập lễ và tiến lễ, đây là một “lời nguyện của vị chủ tọa”, được cấu trúc theo cách nhất định và ngắn gọn.

Linh mục giang tay và mời gọi: “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”. Lời nguyện được kết thúc bằng công thức ngắn: “Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con”. Nội dung của lời nguyện hiệp lễ là cầu xin cho mầu nhiệm vừa mới cử hành sinh hoa kết quả cho đời này và đời sau, cụ thể qua những việc làm trong yêu thương hằng ngày. Cộng đoàn đáp “A-men”.

Linh mục làm chủ tọa Thánh Lễ và đại diện Chúa Ki-tô để cử hành nghi thức tưởng niệm Người. Vai trò này nổi bật trong nghi thức cử hành, do vị trí đặc biệt và do chức vụ của linh mục (5.7). Linh mục là những người “được thánh hiến theo hình ảnh Chúa Ki-tô, thầy cả Thượng Phẩm vĩnh viễn, để rao giảng Tin Mừng, chăn dắt tín hữu và cử hành việc phụng tự Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân Ước, và loan báo lời Thiên Chúa cho mọi người.” Họ là những người đàn ông với tuổi đời trên 25, đã lãnh nhận chức thánh sau một thời gian đào tạo ít nhất là 6 năm và sẵn sàng sống độc thân vĩnh viễn (GL 250.1031,1).

Linh mục là thành phần của hàng Giáo Sĩ trong phẩm trật Giáo Hội và hoạt động dưới quyền của các Giám Mục.  Nhiệm vụ cao quý nhất của linh mục là việc thực thi thánh vụ của mình trong Thánh Lễ: Khi linh mục “thay thế Chúa Ki-tô công bố mầu nhiệm của Chúa, kết hợp những ước nguyện của tín hữu vào hy tế của thủ lãnh họ, đồng thời trong hy lễ Thánh Lễ, các ngài hiện tại hóa và áp dụng hy tế duy nhất của Tân Ước là hy vật tinh tuyền của Chúa Ki-tô đã một lần tự dâng hiến lên Chúa Cha cho tới khi Chúa lại đến” (GH 28).

Trong chức vụ chủ tọa của cộng đoàn được triệu tập, linh mục mở đầu và nói lời nhắn nhủ, cũng như ban phép lành và kết thúc Thánh Lễ. Đọc Tin Mừng và diễn giảng còn là nhiệm vụ dành riêng cho linh mục (và phó tế). Ngài cũng đọc hay hát Kinh Tạ Ơn - điểm cao nhất của Thánh Lễ -, và các lời nguyện nguyện nhập lễ, tiến lễ và hiệp lễ. Nhân danh cộng đoàn hiện diện và toàn thể dân thánh, linh mục dâng các lời kinh nguyện lên Thiên Chúa (9tt).

 Khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, mọi tín hữu bước vào “hàng tư tế thánh”. Từ hàng ngũ này, Thiên Chúa kêu gọi một số tín hữu và trao cho họ trách nhiệm hướng dẫn cộng đoàn Họ là những người được Đức Ki-tô sai đặt làm mục tử, cũng như chính Người được Cha sai đi như là mục tử (Ga 20,21).

Đức Giê-su đã chọn 12 Tông Đồ để trao cho họ trách nhiệm trong Giáo Hội của Người. Chính Người đã chuẩn bị và đã giao phó cho họ toàn quyền việc phục vụ Lời Chúa (Mt 10,8.40; 18,18). Trong bữa tiệc cuối, Người đã để lại cho họ bí tích Thánh Thể (Lk 22,19). Còn các Tông Đồ cũng đã cầu nguyện và đặt tay trên những người được chọn để họ nối tiếp công việc mà Đức Ki-tô trao ban. Một vài người trong đó mang danh hiệu “kỳ mục” - presbytéros (CVTĐ 14,23; 20,17; Tit 1,5). Các vị trợ thủ thời Giáo Hội tiên khởi này là tiền nhân của thừa tác vụ linh mục ngày nay.          

Nhiệm vụ của linh mục được hiểu là một tham dự vào chức “Thượng Tế” hay “Đấng Trung Gian duy nhất” - là Đức Giê-su (Dt 5,5; Tim 2,5).

Thánh Lễ, cuối cùng là một tác động của chính Chúa Ki-tô và của Giáo Hội. Chính Đức Ki-tô hiện diện qua tác vụ của hi tế: trong Lời của Người và dưới hình bánh rượu. Chính Người giảng, hiệp nhất và thánh hóa.

Lễ đã xong,

chúc anh chị em đi bình an 

Theo truyền thống phụng vụ Rô-ma, Thánh Lễ được kết thúc với lời: “Ita, missa est!” - nghĩa là “Hãy đi, đây là kết thúc!” Tự nguồn gốc, lời này được sử dụng trong lãnh vực dân sự thời Rô-ma như một công thức để kết thúc một buổi họp. Chữ missa được dùng trong Thánh Lễ từ đó. Và dần dần, “lời cuối” này của Thánh Lễ đã trở nên cách gọi cho cả Thánh Lễ, giống như trong nhiều ngôn ngữ Châu Âu: mass, messe.

“Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” là một cách giải thích cho lời kết thúc đó, khi sự từ giã được mang tính hòa giải ấm cúng. Phụng vụ Byzanz cũng mang ý nghĩa tương tự: “Chúng ta về trong bình an.” Vì lời kết thúc Thánh Lễ đã được nối kết với việc ban phép lành từ rất sớm, nên missa được hiểu như là một phép lành Chúa ban cho người tham dự lễ. Ơn lành mà người tham dự lễ đón nhận luôn cũng là một trách nhiệm; missa vì thế được hiểu như một sự sai đi, là missio. Hiểu như vậy, missa không chỉ là kết thúc, mà là một khởi đầu của việc sống chứng nhân. Đời sống của Ki-tô hữu phải là “Thánh Lễ nối dài”: lãnh nhận những hồng ân và Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa để loan báo và chia sẻ cho người khác. Bình an và hiệp nhất phải thành xương thành thịt trong cuộc sống hằng ngày người tham dự Thánh Lễ; khi họ “trở về với công việc tốt lành của mình, vừa ngợi khen và chúc tụng Chúa” (57b).

Sau lời giải tán cộng đoàn, linh mục chủ lễ hôn bàn thờ như trước khi bắt đầu lễ, rồi cùng các người giúp lễ chào kính bàn thờ mà ra về (125). Trong mùa Phục Sinh, lời “Lễ đã xong ...” được nối kết với lời tung hô phục sinh “Ha-lê-lui-a”. Theo tập tục phổ biến, cộng đoàn còn có thể hát một bài kính Đức Mẹ và đọc kinh kết thúc.

 

Lạy Chiên Thiên Chúa, ...

Chiên Thiên Chúa là hình ảnh của Đức Giê-su trong Tân Ước: Người là Chiên Vượt Qua. Theo Gio-an, cái chết trên thập tự của Đức Ki-tô làm nền tảng cho truyền thống đó: Đức Ki-tô bị giết vào buổi trưa ngày lễ Vượt Qua, lúc mà trong Đền Thờ theo luật Mô-sê các chiên bị sát tế. Cũng như các chiên hiến tế được ăn khi ống chân không bị đập bể, các người lính đã không đánh giập ống chân Đức Giê-su, bởi vì “các việc này xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh” (Ga 19,31-36).

Gio-an Tiền Hô đã xác định: Đức Giê-su chính là “Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,29.36) và chính Người cũng đã hiểu như vậy. Vì trong bữa tiệc Vượt Qua Người nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy; hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,26tt).

Truyền thống Ki-tô Giáo vẫn luôn tuyên xưng Đức Ki-tô là Chiên Vượt Qua. Người tín hữu được “cứu chuộc nhờ bửu huyết của con chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô”, để trở thành một dân tộc, một “vương quốc Tư Tế mới”, mà dâng những tế lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa. Như dân Do-thái xưa được cứu thoát khỏi Ai-cập, người tín hữu đã được giải thoát khỏi “miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền”, trở nên “hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người” (1 Pr 1,19; 2,5-9).

Đó là một cuộc Xuất Hành thiêng liêng. Được cứu thoát bằng Máu Con Chiên, họ chiến thắng Sa-tan và có thể ca khen “bài ca của Mô-sê và bài ca của Con Chiên” (Kh 12,11;15,3tt) Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu tại Cô-rin-tô: vì “Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua”, nên họ là “bánh không men”, nghĩa là sống với lòng tinh tuyền chân thật (1 Cr 5,7tt).

Trong Kinh Thánh Tân Ước, hình ảnh Chiên Con được sách Khải Huyền dùng đến nhiều nhất để diễn tả quang cảnh ngày Quang Lâm. Trong đó, những nét chính của hình ảnh Đức Ki-tô là Chiên Vượt Qua được giữ, nhưng nhấn mạnh sự đối lập to lớn giữa sự yếu ớt của con chiên bị hiến tế và quyền lực mà Chiên đón nhận khi được nâng cao trên trời.